Trang Đào tạo sau đại học
 
Thông tin luận án tiến sĩ của NCS: Shashi Kant Prasad Chaudhary

Tên luận án: Export Dynamics of Viet Nam: Trade in value added (TIVA) approach


1. Họ và tên nghiên cứu sinh: Shashi Kant Prasad Chaudhary
2.Giới tính: Nam

3. Ngày sinh: 06/05/1975

4. Nơi sinh: Rural Municipality Jira Bhavani-4, Parsa, State no.2, Nepal

5. Quyết định công nhận nghiên cứu sinh: Số 3417/QĐ-ĐHKT ngày 31/7/2015của Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN

6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo: QĐ số 3702/QĐ-ĐHKT ngày 28/12/2018 về việc cho phép nghiên cứu sinh kéo dài thời gian trong chương trình đào tạo

7. Tên đề tài luận án: Export Dynamics of Viet Nam: Trade in value added (TIVA) approach

8. Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

9. Mã số: 9310106.01

10. Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Việt Khôi

11. Tóm tắt các kết quả mới của luận án:

a. Một mối quan hệ lâu dài tồn tại giữa xuất khẩu và GDP của Việt Nam và cho thấy sự đóng góp dài hạn đáng kể của xuất khẩu trong GDP thực tế. Một mối quan hệ ngắn hạn cũng tồn tại giữa xuất khẩu và GDP.

b. Nông nghiệp, khai thác, thực phẩm và đồ uống, dệt may, giày dép, máy tính và điện tử, máy móc, sản xuất chưa được phân loại, thương mại và bán lẻ, khách sạn và nhà hàng, và vận chuyển và lưu trữ đã đóng góp đáng kể vào giá trị gia tăng trong xuất khẩu của Việt Nam.

c. Ngoại trừ nông nghiệp, khai thác, khách sạn và nhà hàng, các ngành công nghiệp còn lại cũng có những đóng góp đáng kể giá trị gia tăng trong xuất khẩu ra nước ngoài của Việt Nam. Hầu hết các ngành công nghiệp tích cực trong nhập khẩu để xuất khẩu (I2E) là máy tính, điện tử, dệt may, giày dép, thực phẩm và đồ uống, và máy móc điện.

d. Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là các nhà cung cấp sản phẩm đầu vào chính cũng như là những người mua các sản phẩm trung gian của Việt Nam.

e. Nông nghiệp, thực phẩm, đồ uống, dệt may và giày dép đã cho thấy lợi thế so sánh trên tất cả sáu thị trường đang xem xét (Thế giới, Đông Á, ASEAN, EU, NAFTA và BRIS) nhất quán trong giai đoạn 1995-2011.

f. Lĩnh vực khai khoáng rất cạnh tranh ở Đông Á, Liên minh châu Âu và NAFTA; sản phẩm gỗ trên thế giới, Đông Á, EU và NAFTA; khoáng sản phi kim loại chỉ trong NAFTA; máy tính và thiết bị điện tử chỉ trong BRIS; thương mại bán buôn và bán lẻ ngoài thị trường ASEAN; khách sạn và nhà hàng trên thế giới, Đông Á, EU và BRIS. Ngoài ra, đồ nội thất rơi vào sản xuất không được phân loại ở nơi khác cũng cho thấy tiềm năng lớn hơn trong giai đoạn gần đây về giá trị gia tăng xuất khẩu trong nước.

g. Sự phóng đại được tìm thấy trong các giá trị xuất khẩu gộp của vốn nhân lực và các ngành công nghiệp thâm dụng công nghệ (ví dụ: máy móc và thiết bị, máy tính, điện tử, máy móc điện, vận tải, v.v.). Tuy nhiên, tổng xuất khẩu được tìm thấy phù hợp với xuất khẩu giá trị gia tăng nội địa cho lao động có tay nghề thấp (ví dụ: thực phẩm và đồ uống, dệt may và giày dép) và các ngành dịch vụ (ví dụ: thương mại, khách sạn và nhà hàng).

h. Sự tham gia của Việt Nam vào Chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) đã tăng đáng kể, chủ yếu là do sự tham gia lạc hậu vào máy tính và điện tử, dệt may, giày dép, thực phẩm và đồ uống, máy móc điện, kim loại cơ bản, thương mại bán buôn và bán lẻ, ngành kho vận.

i. Trong số bốn mô hình của chiến lược tăng trưởng dẫn đầu xuất khẩu vơi Mô hình Đức và Nhật Bản, mô hình của các Con Hổ châu Á (các nước có nền kinh tế mới nổi), mô hình Mexico và mô hình Trung Quốc, Việt Nam được tìm thấy gần giống với mô hình Mexico, theo đó, nó đã biến mình thành nền tảng sản xuất xuất khẩu cho các quốc gia nước ngoài bằng cách đàn áp tiền lương, thay vì phát triển năng lực công nghiệp bản địa.

12. Khả năng ứng dụng thực tiễn:

Áp dụng đáng kể về mặt phát triển chính sách liên quan đến thương mại

13. Các hướng nghiên cứu tiếp theo:

Các nghiên cứu sâu hơn về các khía cạnh rộng lớn hơn của động lực xuất khẩu như đánh giá mối quan hệ của xuất khẩu giá trị gia tăng với cân bằng thương mại, hoặc tỷ giá hối đoái, và hậu quả môi trường của thương mại.
14. Các công trình công bố liên quan đến luận án:

1. Shashi Kant Chaudhary, 2019: “Đánh giá lại năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của Việt Nam”. Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(5), trang 539-549. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đồng tác giả với PGS.TS. Nguyễn Việt Khôi.

2. Shashi Kant Chaudhary, 2019: “Việt Nam tham gia Chuỗi Giá trị Toàn cầu trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4”. Đã được chấp nhận để xuất bản trong Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2019 - Trên Ngưỡng cửa của nền Kinh tế Kỹ thuật số, Chương IV. Phần Tóm tắt (trang 8-10) và bản trình chiếu (từ slide 98-123) đã được công nhận trong quá trình hoàn thiện để xuất bản bởi Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), Hà Nội. Đồng tác giả với PGS.TS. Nguyễn Việt Khôi.

3. Shashi Kant Chaudhary, 2019: “Vị thế của Việt Nam trong Chuỗi giá trị toàn cầu”. Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 5, Số 3 (2019), trang 292-313. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đồng tác giả với PGS.TS. Nguyễn Việt Khôi.

4. Shashi Kant Chaudhary, 2019: “Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia trong Chuỗi giá trị toàn cầu”. Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, 4/2019, trang 23-35. Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới. Đồng tác giả với PGS.TS. Nguyễn Việt Khôi và Th.S. Phan Thị Thanh Huyền.

Shashi Kant Chaudhary, 2018: “Phân tích thực nghiệm về tăng trưởng do xuất khẩu của Việt Nam”. Tạp chí Quản trị và Kinh doanh, 5(1), trang 1-15. Khoa Quản trị, Trường Đại học Kinh doanh, Đại học Pokhara, Pokhara. Đồng tác giả với PGS.TS. Nguyễn Việt Khôi.

ập 5, Số 3 (2019), trang 292-313. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đồng tác giả với PGS.TS. Nguyễn Việt Khôi.

4. Shashi Kant Chaudhary, 2019: “Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia trong Chuỗi giá trị toàn cầu”. Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, 4/2019, trang 23-35. Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới. Đồng tác giả với PGS.TS. Nguyễn Việt Khôi và Th.S. Phan Thị Thanh Huyền.

Shashi Kant Chaudhary, 2018: “Phân tích thực nghiệm về tăng trưởng do xuất khẩu của Việt Nam”. Tạp chí Quản trị và Kinh doanh, 5(1), trang 1-15. Khoa Quản trị, Trường Đại học Kinh doanh, Đại học Pokhara, Pokhara. Đồng tác giả với PGS.TS. Nguyễn Việt Khôi.

Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN