Trang Nghiên cứu
Banner động trên cùng trang tin
Nhóm nghiên cứu lý thuyết và chính sách kinh tế vĩ mô trong điều kiện hội nhập kinh tế của Việt Nam



I. Giới thiệu nhóm nghiên cứu

- Tên nhóm: Lý thuyết và chính sách kinh tế vĩ mô trong điều kiện hội nhập kinh tế của Việt Nam (Chương trình nghiên cứu chiến lược về Kinh tế vĩ mô của Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN)

- Trực thuộc đơn vị: Trường ĐH Kinh tế - ĐHQGHN

- Trưởng nhóm: TS. Nguyễn Đức Thành
- Danh sách thành viên
 
TT

Học hàm, học vị

Họ và tên

Đơn vị công tác, chức vụ

1
ThS.
Phạm Sỹ An

Phó Ban kinh tế vĩ mô, Viện Kinh tế VN - Viện Khoa học xã hội VN

2
TS.
Phạm Thế Anh

Phó Viện trưởng Viện Chính sách công và Quản lý, ĐH Kinh tế quốc dân HN

3
PGS.TS.
Từ Thúy Anh

Trưởng Khoa Kinh tế quốc tế, ĐH Ngoại thương HN

4
NCS.
Phạm Văn Đại

Ngân hàng Hàng hải (đang trong giai đoạn hoàn thành chương trình tiến sỹ tại Australia)

5
ThS.
Hoàng Xuân Diễm

Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

6
TS.
Laure Pasquier Doumer

Viện nghiên cứu phát triển Pháp (IRD)

7
TS.
Lê Hồng Giang

Giám đốc Quỹ Ngoại hối của công ty đầu tư Tactical Global Management, Australia.

8
TS.
Phạm Văn Hà

Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính - Bộ Tài chính

9
TS.
Nguyễn Thị Thu Hằng

Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, ĐH Kinh tế - ĐHQGHN

10
TS.
Quách Mạnh Hào

Chủ nhiệm Khoa Tài chính Ngân hàng, Trường ĐH Kinh tế - ĐHQGHN

11
TS.
Nguyễn Thị Minh Huệ

Giảng viên Viện Ngân hàng Tài chính, ĐH Kinh tế quốc dân HN

12
TS.
Nguyễn Quốc Hùng

Viện các Nền Kinh tế Đang Phát triển (IDE), Tokyo, Nhật Bản

13
TS.
Edmund Malensky

Khoa Quan hệ quốc tế và Thái Bình Dương, ĐH California - Hoa Kỳ

14
TS.
Nguyễn Thị Minh

Giảng viên Khoa Toán kinh tế, ĐH Kinh tế quốc dân HN

15
TS.
Đinh Tuấn Minh

Trưởng phòng Phân tích, Ngân hàng Quân đội

16
TS.
Xavier Oudin

Viện Nghiên cứu phát triển Pháp

17
TS.
Francois Roubaud

Chuyên gia kinh tế của Chương trình DIAL-IRD tại Việt Nam

18
TS.
Lê Kim Sa

Trưởng phòng Nghiên cứu, Trung tâm Phân tích và Dự báo - Viện Hàn lâm KHXHVN

19
PGS.TS.
Nguyễn Hồng Sơn

Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế - ĐHQGHN

20
ThS.
Phạm Minh Thái

Trung tâm Phân tích và Dự báo - Viện Hàn lâm KHXHVN

21
ThS.
Nguyễn Mai Thanh

Phó Trưởng phòng Nghiên cứu và Hợp tác quốc tế - Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam

22
TS.
Nguyễn Đức Thành

Giám đốc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, ĐH Kinh tế - ĐHQGHN

23
TS.
Tô Trung Thành

Giảng viên Khoa Kinh tế học, ĐH Kinh tế quốc dân HN

24
TS.
Phạm Sỹ Thành

Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, ĐH Kinh tế - ĐHQGHN

25
TS.
Tô Minh Thu

Giám đốc Trung tâm Hội nhập và Phát triển - Viện Nghiên cứu Chiến lược Ngoại giao - Học viện Ngoại giao

26
TS.
Đặng Ngọc Tú

Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia

27
TS.
Trần Thị Thanh Tú

Phó Chủ nhiệm Khoa Tài chính Ngân hàng, ĐH Kinh tế - ĐHQGHN

28
 
Vũ Hoàng Đạt

Trung tâm Phân tích và Dự báo

29
 
Vũ Phạm Hải Đăng
Cộng tác viên của VEPR
30
NCS.ThS.
Phạm Bảo Khánh

Trưởng phòng Giám sát Ngân hàng, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

31
CN.
Nguyễn Thị Thu Quỳnh
Trường ĐH KHXH&NV
32
CN.
Ngô Quốc Thái
Nghiên cứu viên tại VEPR
33
CN.
Vũ Minh Long
Nghiên cứu viên tại VEPR
34
TS.
Nguyễn Hữu Chí

Giảng viên Khoa Thống kê, ĐH Kinh tế quốc dân HN

35
TS.
Nguyễn Bình Dương

Giảng viên Khoa Kinh tế quốc tế, ĐH Ngoại thương

36
TS.
Francois Roubaud

Chuyên gia kinh tế chương trình DIAL-IRD

37
TS.
Jago Penrose

Chuyên gia kinh tế của UNDP

 

- Danh sách Hội đồng khoa học:

 
STT

Học hàm, học vị

Họ và tên

Chức vụ, đơn vị

1
TS

Nguyễn Đình Cung

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

2
TS

Lê Đăng Doanh

Chuyên gia kinh tế cao cấp, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

3
GS.TS

Nguyễn Hữu Đức

Phó Giám đốc ĐH Quốc gia Hà Nội

4
GS.TSKH

Vũ Minh Giang

Nguyên Phó Giám đốc ĐH Quốc gia Hà Nội

5
TS

Phạm Văn Hà

Đại học Quốc gia Úc, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính, Bộ Tài chính

6
TS

Vũ Quốc Huy

Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

7
TS

Trần Viết Ký

 

Chủ tịch Trung tâm Đầu tư, Tư vấn và Thương mại Intervina

8
 

Phạm Chi Lan

Nguyên Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

9
PGS.TS

Lê Bộ Lĩnh

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương

10
PGS.TSKH

Võ Đại Lược

Tổng Giám đốc Trung tâm Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương Việt Nam

11
PGS.TS

Phùng Xuân Nhạ

Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội

12
TS

Lê Xuân Nghĩa

Nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia

13
TS

Vũ Viết Ngoạn

Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia

14
TS

Lê Hồng Nhật

Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

15
PGS. TS

Nguyễn Hồng Sơn

Hiệu trưởng trường ĐH Kinh tế - ĐH Quốc gia Hà Nội

16
GS.TS

Kenichi Ohno

Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản - GRIPS

17
GS.TSKH

Nguyễn Quang Thái

Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam

18
TS

Võ Trí Thành

Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

19
PGS.TS

Trần Đình Thiên

Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

20
TS

Lê Lệ Thủy

Giám đốc Trung tâm Đầu tư, Tư vấn và Thương mại Intervina

21
 

Trương Đình Tuyển

Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương Mại, thành viên của Hội đồng Chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia

22
TS

Đinh Quang Ty

Hàm Vụ trưởng, Thư ký khoa học của Hội đồng lý luận Trung ương

23
TS

Alex Warren-Rodriguez

Chuyên gia Kinh tế, UNDP

 
Thời gian hoạt động: 2008-2013
 

II. Hướng nghiên cứu chính:

Dựa trên kinh nghiệm 5 phát triển (2008-2013) mang tính thí điểm và đã đạt được một số thành công ban đầu, đồng thời rút ra những bài học về tổ chức thực hiện, Chương trình nghiên cứu “Kinh tế học vĩ mô và chính sách kinh tế vĩ mô trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam” được mở rộng và thiết kế lại theo bốn nội dung lớn, tương ứng với bốn mục tiêu của Chương trình, cụ thể như sau:

- Nghiên cứu các lý thuyết và công cụ phân tích kinh tế vĩ mô hiện đại trong điều kiện Việt Nam

- Nghiên cứu các vấn đề kinh tế vĩ mô hiện đại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế gắn liền với sự thay đổi cơ cấu kinh tế

- Nghiên cứu cơ chế điều hành chính sách vĩ mô, giải pháp công cụ và nội dung chính sách điều hành kinh tế kinh tế vĩ mô trong điều kiện nền kinh tế mở của Việt Nam.

- Đào tạo nghiên cứu sinh, thạc sĩ và các chuyên gia, xây dựng và phát triển nhóm nghiên cứu mạnh, hình thành mạng lưới nghiên cứu kinh tế vĩ mô hiện đại.

III. Các hoạt động khoa học công nghệ trong 5 năm gần đây

Như trên đã nêu, mục tiêu chung của Chương trình nghiên cứu trọng điểm “Kinh tế học vĩ mô và chính sách kinh tế vĩ mô trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam” là phải đáp ứng được các yêu cầu cấp thiết từ tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Do vậy, các sản phẩm của Chương trình đều bắt nguồn từ các mục tiêu cụ thể. Với 6 mục tiêu cụ thể (như đã nêu trong mục mục 5.2), Chương trình có hệ thống sản phẩm đa dạng. Nhìn chung, các sản phẩm này có thể khái quát thành mấy nhóm sau:

1. Sản phẩm công bố khoa học
Nhóm sản phẩm công bố chủ yếu bao gồm:

- Báo cáo thường niên Kinh tế Việt Nam

- Hệ thống sách chuyên khảo

- Bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí uy tín trong nước và quốc tế, đặc biệt là các ấn phẩm nằm trong danh mục ISI, SCI, Scopus

- Báo cáo định kỳ theo tháng, theo quý, theo nửa năm

- Hệ thống Working Papers

2. Sản phẩm tư vấn chính sách
Nhóm sản phẩm tư vấn chính sách sẽ chủ yếu bao gồm:

- Các báo cáo dự báo

- Các báo cáo chuyên đề tư vấn chính sách mang tính đột xuất

- Báo cáo tư vấn chính sách thường kỳ

3. Sản phẩm đào tạo

Nhóm sản phẩm đào tạo sẽ chủ yếu bao gồm:

- 100% Chương trình nghiên cứu có đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ

- Lý thuyết của người học được cập nhật

- Hiểu biết về tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam của người học được nâng cao

- Các chương trình đào tạo ngắn hạn để nâng cao năng lực cho đội ngũ nghiên cứu và giảng viên, sinh viên

- Kho cơ sở dữ liệu là các tài liệu nghiên cứu đã được thu thập trong quá trình thực hiện các đề tài thuộc Chương trình

- Số lượng PGS, GS là thành viên của nhóm nghiên cứu tăng lên khi được tạo điều kiện hướng dẫn cao học và nghiên cứu sinh

4. Sản phẩm về nâng tầm năng lực nghiên cứu và xây dựng mạng lưới nghiên cứu

- Nhóm nghiên cứu mạnh về kinh tế vĩ mô và chính sách kinh tế vĩ mô thuộc ĐHQGHN;

- Mạng lưới các viện nghiên cứu và think-tanks về chính sách kinh tế vĩ mô trong nước, trong khu vực và thế giới

- Các hội thảo quốc gia/quốc tế trong nước và trong khu vực.

5. Các đ tài/ d án đã công bố:

- Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2009 với chủ đề “Kinh tế Việt Nam 2008: Suy giảm và thách thức đổi mới”: cấp ĐHQGHN, 2009

- Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2010 với chủ đề “Lựa chọn để tăng trưởng bền vững”: cấp ĐHQGHN, 2010

- Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2011 với chủ đề “Nền kinh tế trước ngã ba đường”:cấp ĐHQGHN, 2011

- Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2012 với chủ đề “Đối diện thách thức tái cơ cấu kinh tế”:cấp ĐHQGHN, 2012, loại Xuất sắc

- Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2013 với chủ đề “Trên đường gập ghềnh tới tương lai”: cấp ĐHQGHN, 2013, loại Tốt

6. Các bài báo đã công bố:

Các bài báo đã công bố của Trưởng nhóm: TS. Nguyễn Đức Thành:

 
TT

Tên bài báo

Là tác giả hoặ đồng tác giả

Tên tạp chí công bố

Năm công bố
1
Mô hình chảy máu chất xám tối ưu
Tác giả
Tạp chí Kinh tế và Phát triển
11/2004
2
Chính sách tiền tệ: cứng nhắc hay linh hoạt
Tác giả
Tạp chí Tài chính
3/2008
3

Từ cuộc tranh luận về kinh tế học vĩ mô về kiều hối đến
những bài học cho Việt Nam hiện nay

Tác giả
Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới (VASS)
4/2008
4

Back to School in Afghanistan: Determinants of School Enrolment

Đồng tác giả

International Journal of Educational Development

5/2008
5
Ảnh hưởng của tăng giá xăng dầu - một số phân tích định lượng ban đầu
Đồng tác giả
Tạp chí Khoa học, Tập san Kinh tế-Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội
12/2008
6
Kích cầu: từ căn nguyên tư tưởng đến thực tiễn Việt Nam
Tác giả


Tạp chí Tài chính

1/2009
7
Thử suy nghĩ về quy mô tối ưu của gói kích thích kinh tế
Tác giả


Tạp chí Nhà quả lý

8/2009
8

Thử xác định đối tượng cho chính sách kích cầu ở Việt Nam: cách tiếp cận phân tích bảng cân đối liên ngành - liên vùng

Đồng tác giả
Tạp chí Khoa học, Tập san Kinh tế-Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội
10/2009
9
Môi trường kinh doanh ở Việt Nam
Đồng tác giả
Tạp chí Tài chính
12/2009
10

Kinh tế Việt Nam trong bối cảnh suy thoái khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Đồng tác giả
Tạp chí Các vấn đề kinh tế và chính trị thế giới
2/2010
11

Nguồn gốc của tăng trưởng sản lượng ở Việt Nam trong giai đoạn 1989-2005

Đồng tác giả
Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế
11/2010
12

Nguồn gốc của lạm phát Việt Nam, giâi đoạn 2000-2010: Phát hiện mới từ những bằng chứng mới

Đồng tác giả

Tạp chí Các vấn đề kinh tế và chính trị thế giới
4-5/2011
13
Sáu bài học từ một thập kỷ chống lạm phát
Đồng tác giả
Tạp chí Tài chính
7/2011
14

Nguồn gốc của lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010: Phát hiện mới từ những bằng chứng mới

Tác giả

Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới

2011
15

"Global Crisis, Remittances, and Poverty in Asia: The Case of Vietnam"

 
Đồng tác giả

Global Crisis, Remittances, and Poverty in Asian Development Bank, Manila, Philippines, pp. 124-158.

2012
16

Vai trò giảm nghèo của kiều hối trong khủng hoảng kinh tế: trường hợp Việt Nam

Đồng tác giả

Tạp chí nghiên cứu kinh tế

2013
17

Khuynh hướng và đặc điểm của các luồng di cư trên thế giới trong thập niên đầu thế kỷ XXI

Đồng tác giả

Tạp chí Những vấn đề kinh tế và Chính tri thế giới

2014
 
Các bài báo đã công bố của các thành viên khác:
 
TT

Tên bài báo

Là tác giả hoặc là đồng tác giả công trình

Tên tạp chí công bố

Năm công bố
1

Nợ công của Việt Nam: những vấn đề và tác động tiềm tàng

Lê Kim Sa
Tạp chí Cộng sản điện tử, số 251
2012
2

Châu Âu sau khủng hoảng: bắt đầu một "kỷ nguyên lạnh lẽo"

 
Lê Kim Sa

Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 358

2012
 
3

Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng: kinh nghiệm Hàn Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Lê Kim Sa

Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 4 (134)

2012
4

Thịnh, Suy hay Điều chỉnh: triển vọng phát triển kinh tế Trung Quốc đến năm 2020

Lê Kim Sa
Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc

sắp xuất bản

5

Triển vọng kinh tế Việt Nam nhìn từ giữa năm 2013

Nguyễn Đức Thành & Ngô Quốc Thái

Tạp chí Tài chính, số 7
2013
6

Lạm phát ở Việt Nam giai đoạn hậu gia nhập WTO (2006-2013): Phân tích vi mô và hàm ý chính sách

Nguyễn Thị Thu Hằng, Vũ Phạm Hải Đăng và Nguyễn Đức Thành

Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế
 
7

Nhật Bản dưới sức ép đổi mới thời Shinzo Abe

Lê Kim Sa

Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 412

2013
8

Nguy cơ giải công nghiệp hóa sau khi hình thành khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc

Phạm Sỹ Thành và Nguyễn Thị Thu Quỳnh

Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số tháng 10

2013
 
 

7. Báo cáo khoa học tại Hội nghị khoa học quốc tế:

Của trưởng nhóm TS. Nguyễn Đức Thành:

- Tên hội thảo: The potentials of the Asian Economic Zone

Đơn vị tổ chức: Economic and Social Research Institute (ESRI), Cabinet Office, Government of Japan

 Địa điểm: Room B, 4th floor, Lino Hall & Conference Center, Tokyo, Japan

Thời gian: Ngày 27-9-2013
- Tên báo cáo khoa học: Viet Nam: Structural Reforms for a Better International Integration

+ “Do Chinese Have Stronger Son Preference than Vietnamese?” trình bày tại 2008 International Association for Feminist Economics Annual Conference, 19-21/6/2008, Torino, Italy.

+ “Economywide Effects of Remittances: A Computable General Equilibrium Assessment from Vietnam,” trình bày tại 11th International Convention of the East Asian Economic Association, 15-16/11/2008, Manila, Phillipines.

+ “Vietnam: Improving Safety Net System for Sustainable Recovery”, PECC Conference on “Economic Crisis and Recovery: Enhancing Resilience, Structural Reform, and Freer Trade in the Asia-Pacific Region,” 9-10/10/2009, Singapore.

+ “The Rise of China and the Economic Divergence of Southeast Asian Countries,” 16th ASEAN Forum, 24/6/2011, Seoul, Korea.

 Của các thành viên khác:

- Tên bài báo: “The Total Factor Productivity Growth of the Asia Region: Asian Contagion vs GFC”, 27th International Conference of the American Committee for Asian Economic Studies (ACAES)

Tác giả: Sarath Delpachitra, Pham Van Dai, and Penny Neal

- Tên tạp chí: Financial Econometrics group (FEG) at Deakin University in Melbourne, Australia,

Thời gian xuất bản: 26-27 October, 2012.

III. Các thành tích nổi bật của nhóm nghiên cứu

- Giải thưởng Bảo Sơn 2012 “Vì sự nghiệp phát triển bền vững” dành cho chuỗi Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2009-2012 nhận

- Giải thưởng Sách đẹp 2012 dành cho Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2011: Nền kinh tế trước ngã ba đường, bản tiếng Anh

- Giải thưởng Sách hay 2013, hạng mục Kinh tế, thể loại Sách viết, dành cho Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2012: Đối diện thách thức tái cơ cấu kinh tế, bản tiếng Việt

- Những giải thưởng khác của các thành viên:
TT
Họ tên

Hình thức và nội dung giải thư­ởng

Tổ chức, năm tặng thưởng
 
 
 
1
 
 
 

Phạm Văn Hà

Giải Khuyến khích, Giải thưởng Thường niên Báo chí toàn quốc viết về Ngành Tài chính, Tạp chí Tài chính, tác phẩm: “Phân tích, Dự báo biến động giá cả, Lạm phát năm 2008 và Kiến nghị Giải pháp”

2008
 
 
 
2
 
 
 

Phạm Văn Hà

Giải thưởng cho Bài báo tốt nhất trên Tạp chí “Economic Record” của Hiệp hội Kinh tế Úc, tác phẩm: “Lợi ích Kinh tế từ Dự trữ biển: Lợi tức trong Môi trường rủi ro” (Đồng tác giả)

2006
 
 
 
 
3
 
 
 
 

Phạm Văn Hà

Giải thưởng cho Báo cáo có ý nghĩa chính sách nhất tại Hội thảo lần thứ hai của Mạng lưới các nhà Kinh tế và Môi trường, Đại học Tổng hợp Quốc gia Úc, tác phẩm: “Lợi ích kinh tế từ dự trữ biển: Lợi tức trong môi trường rủi ro” (Đồng tác giả)

2005
 
 
4
 
 
Phạm Sỹ Thành

“Công trình khoa học tiêu biểu của nhà khoa học trẻ năm 2012 của ĐHQGHN”. Công trình: Trung Quốc: Tăng trưởng và chuyển đổi kinh tế (1949 – 2009)

 

ĐHQGHN, 2013

 

IV. Kinh nghiệm xây dựng phát triển nhóm nghiên cứu mạnh

Một trong những mục tiêu mà ngay từ ban đầu Chương trình hướng tới là nâng cao năng lực nghiên cứu kinh tế vĩ mô của các thành viên trong nhóm nghiên cứu cũng như của giảng viên trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN. Và các sản phẩm của Nhóm nghiên cứu đãcó sự khác biệt lớn so với nghiên cứu mang tính ứng dụng của các viện/tổ chức nghiên cứu thuộc các Bộ/Viện.

Xét về năng lực nghiên cứu của nhóm, đây là một nhóm nghiên cứu mạnh do:

- Nhóm nghiên cứu đã quy tụ được đội ngũ các nhà nghiên cứu, các chuyên gia kinh tế được đào tạo bài bản ở nước ngoài, hoặc các chương trình đào tạo sau đại học uy tín trong nước. 100% thành viên nghiên cứu trong nhóm có khả năng sử dụng ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Trung v.v) trong nghiên cứu và giao tiếp.

- Các thành viên của nhóm nghiên cứu thường xuyên có các hoạt động trao đổi, tham dự hội thảo, tham gia nghiên cứu với các tổ chức nghiên cứu hàng đầu của nước ngoài.

- Mở rộng hợp tác quốc tế với các mạng lưới các nhà nghiên cứu kinh tế học vĩ mô trong khu vực và trên thế giới, mạng lưới các Viện, trường đại học tại các nước thành viên ASEAN, Trung Quốc và các nước phát triển (Hoa kỳ, Châu Âu, Nhật Bản, v.v…).

Xét về thành phần nhóm nghiên cứu: nhiều chuyên gia đã và đang đảm nhiệm các chức vụ quan trọng trong các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô như: Hội đồng Lý luận Trung ương, Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, Hội đồng Chính sách Tài chính – Tiền tệ Quốc gia, Viện Nghiên cứu Quản lí Kinh tế Trung ương v.v. Đây là những chuyên gia hàng đầu về kinh tế vĩ mô ở Việt Nam cũng như nắm bắt một cách sát sao mỗi thay đổi dù là nhỏ nhất của chính sách kinh tế vĩ mô nước nhà. Sự tư vấn, phản biện của nhóm chuyên gia này đã góp phần định hướng để các nghiên cứu của Chương trình tiến hành phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của công tác hoạch định, điều hành, giám sát và đánh giá về chính sách kinh tế vĩ mô ở Việt Nam

Với tầm nhìn chiến lược, ĐHQGHN trong thời gian qua đã tập trung vào việc tạo động lực gia tăng các giá trị KH&CN, nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường các yếu tố cạnh tranh cả trên phương diện quốc gia và quốc tế; thúc đẩy sự phát triển của ĐHQGHN và các đơn vị theo định hướng nghiên cứu. Do đó, nhóm nghiên cứu có những điều kiện tốt nhất đểđảm bảo Chương trình nghiên cứu “Kinh tế học vĩ mô và chính sách kinh tế vĩ mô trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam” được hỗ trợ triển khai lâu dài và ở mức cao nhất.

Đây là nhu cầu sẽ tồn tại trong một thời gian tương đối dài trong tương lai, với những yêu cầu cụ thể và cấp thiết. Do đó, Chương trình nghiên cứu “Kinh tế học vĩ mô và chính sách kinh tế vĩ mô trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam” sẽ là một chương trình nhận được sự quan tâm liên tục, lâu dài của giới hoạch định chính sách và của xã hội vì tính bền vững của Chương trình bắt nguồn từ nhu cầu cấp thiết của Việt Nam trong tương lai tương đối dài. Kinh tế Việt Nam và viêc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn. Những thách thức này bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau: (i) Việt Nam là một nền kinh tế đang chuyển đổi; (ii) Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển; (iii) Quá trình chuyển đổi kinh tế của Việt Nam bị lôi cuốn vào quá trình toàn cầu hóa. h trệ và đòi hỏi phải có những cải cách kinh tế sâu sắc. Điều này đặt Việt Nam trước những tình thế mới, và giới nghiên cứu – lý luận cũng như giới điều hành chính sách phải đối mặt với những thách thức về lý luận và thực tiễn mới.

Trong ĐHQGHN, Trường Đại học Kinh tế và VEPR là những tổ chức có năng lực nghiên cứu mạnh, có kinh nghiệm trong việc đấu thầu và triển khai các chương trình nghiên cứu cấp quốc gia. Đây là môi trường thuận lợi để nhóm Nghiên cứu thực hiện Chương trình với sự hỗ trợ tốt nhất.

V. Kiến nghị, đề xuất giải pháp phát triển nhóm nghiên cứu mạnh ở ĐHQGHN

- Để thực hiện các Chương trình nghiên cứu trọng điểm, cần có các nhóm nghiên cứu mạnh làm nòng cốt. Nhóm nghiên cứu mạnh phải là tập thể các nhà khoa học được tập hợp theo hướng chuyên môn, hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo đạt hiệu quả tốt, có nhiều sản phẩm chất lượng cao, tiếp cận các tiêu chí của đại học nghiên cứu tiên tiến; có khả năng làm nòng cột hoặc phối hợp với các nhóm nghiên cứu khác và mạng lưới nghiên cứu trong nước và thế giới để triển khai các nội dung khoa học của Chương trình.

- Để tránh hiện tượng đầu tư nghiên cứu dàn trải, không tạo thành mũi nhọn và thế mạnh đặc thù cho cơ sở nghiên cứu, các hướng nghiên cứu của các Nhóm nghiên cứu mạnh nên được xác định một cách rõ ràng, mang tính tập trung. Đồng thời ĐHQGHN cũng nên cho thực hiện phương thức tự chủ tài chính trong nghiên cứu khoa học công nghệ với các Chương trình trọng điểm và cách thức nghiệm thu, đánh giá mới với các Chương trình trọng điểm nhằm tăng trách nhiệm của nhóm nghiên cứu cũng như hội đồng chuyên gia tư vấn - phản biện.


Trường ĐHKT - ĐHQGHN